Hội đồng trường …chạy bằng gì?

0
397
Rate this post

LTS: Ở nước ta cơ chế hội đồng trường mới được đưa vào một số văn bản luật, chưa được vận hành rộng rãi trong các cơ sở giáo dục đại học nên những kinh nghiệm thực tế về hoạt động của hội đồng trường chưa phổ biến. 

Để cơ chế hội đồng trường mang thể đi vào và phát huy tác dụng trong hệ thống giáo dục đại học phải làm rõ chức năng của nó, nên phân biệt chức năng đó mang chức năng của bộ máy điều hành hoạt động của nhà trường và xác định mối quan hệ giữa hai thực thể. 

Bữa nay, trong bài viết này, Giáo sư Lâm Quang quẻ Thiệp chỉ rõ chức năng và phương thức hoạt động của Hội đồng trường phê chuẩn việc giáo sư đúc kết qua các tài liệu tham khảo từ nước không tính.

Tòa soạn trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. 

Đầu tiên, các chức năng và nhiệm vụ của hội đồng trường

Các cơ sở giáo dục đại học ở những tầng bậc khác nhau có sứ mạng và chức năng, nhiệm vụ ko hoàn toàn như nhau, do đó chức năng, nhiệm vụ của hội đồng trường trong các loại cơ sở đó cũng với sắc đẹp thái khác nhau. 

Bên cạnh đó có thể nêu các nét chung nhất của hội đồng trường trong 1 cơ sở giáo dục đại học như sau.

1 là, Hội đồng trường buộc phải khiến cầu nối giữa chủ với cộng đồng và nhà trường. 

Trong ví như các cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục đại học ngoại trừ công lập mang thêm người sở hữu lợi ích tác động. 

Những nhóm người này ở ngoại trừ cơ sở giáo dục đại học có thể đông hơn ở trong cơ sở giáo dục đại học, do ấy người ta thường nói hội đồng trường lãnh đạo trường đại học bắt đầu từ bên ngoại trừ.  

Được sự ủy thác của chủ mang cùng đồng, hội đồng trường bắt buộc ra những quyết định sao cho bảo toàn và tăng trưởng giá trị kinh tế xã hội của nhà trường và đáp ứng những mục đích trông đợi của các nhóm người với ích lợi tương tác.  

Cũng sở hữu nhân cách là cầu nối mang những cộng đồng bên không tính cơ sở giáo dục đại học, hội đồng trường với 1 nhiệm vụ quan yếu là mua những nguồn tài trợ cho nhà trường.

Giáo sư Lâm Quang quẻ Thiệp chỉ rõ chức năng và phương thức hoạt động của Hội đồng trường (Ảnh: Xuân Trung)

Hai là, nhiệm vụ trọng điểm của hội đồng trường là xây dựng chính sách, kế hoạch nói chung, sử dụng chính sách khiến phương tiện để quản trị nhà trường.  

Các chính sách mà hội đồng trường xây dựng thường bao gồm hai cái: những mục tiêu rốt cục cần đạt được (Ends) và các giới hạn ko được phép vượt qua khi điều hành (Executive Limitations) (John Carver, 1990 (một)).  

Ba là, 1 bổn phận quan trọng của hội đồng trường là chọn lựa được một hiệu trưởng sở hữu năng lực. Hiệu trưởng chính là người đứng đầu đứng đầu bộ máy điều hành (chief executive officer – CEO).  

Người ta thường nói: hội đồng trường chỉ mang một nhân viên, đó là hiệu trưởng (John Carver, 1990 (1)), do ấy việc tậu đúng hiệu trưởng mang tầm quan yếu mang tính quyết định đối sở hữu nhà trường. 

Bốn là, giám sát và kiểm tra việc khai triển thực thi của hiệu trưởng đối có những chính sách và kế hoạch tổng thể đã được hội đồng trường đề ra. 

Muốn kiểm tra đúng việc thực thi những chính sách, buộc phải có những tiêu chí được xác định khi đưa ra những chính sách. 

1 nguyên tắc buộc phải tuân thủ là chỉ kiểm soát và đánh giá các gì đã được nêu ra trong những chính sách đã được thiết lập, hoặc đề cập phương pháp khác, “Trường hợp anh ko hề nhắc nó nên như thế nào thì anh đừng hỏi nó đã như thế nào” (John Carver, 1990 (1)). 

Qua việc giám sát và kiểm tra này hội đồng trường đảm bảo cho bộ phận điều hành thực thi đúng những chính sách và kế hoạch nói chung đã được đề ra.

Trang bị hai, về vai trò và nhiệm vụ của hiệu trưởng  

Một là, Hiệu trưởng là người đứng đầu bộ máy điều hành, với bổn phận đơn vị thực hành đúng mọi chính sách và kế hoạch tổng thể mà hội đồng trường đề ra (To make everything come out RIGHT (John Carver, 1990 (1)).   

Hoạt động của hiệu trưởng ko buộc phải là thực hiện những công việc cụ thể, mà là mẫu mã công việc, lãnh đạo thực hiện chiến lược, tạo buộc phải bầu ko khí khiến cho việc tích cực, sáng tạo và chan hòa trong nhà trường.

Hai là, Hiệu trưởng bắt buộc khiến cầu nối giữa hội đồng trường và hầu hết thành viên trong trường. Và hiệu trưởng là “nhân viên độc nhất vô nhị” của hội đồng trường, và hội đồng trường liên quan đến toàn bộ thành viên trong nhà trường qua viên chức độc nhất đấy, bởi vậy hiệu trưởng cần là cái cầu nối tốt giữa hội đồng trường và toàn trường.    

Ba là, Hiệu trưởng chịu trách nhiệm giải trình trước hội đồng trường về những hoạt động của nhà trường, đảm bảo thành quả của các chính sách được đề ra và không vi phạm các giới hạn điều hành đã được quy định. 

Trách nhiệm giải trình của hiệu trưởng là nghĩa vụ của chức vụ người đứng đầu, bổn phận đối mang cả hệ thống tất cả cấp điều hành của bộ máy chứ không cần chỉ nghĩa vụ cá nhân.

Mặt khác, nghĩa vụ giải trình của hiệu trưởng là trách nhiệm trước hầu hết hội đồng trường như là một đơn vị chứ không nên trước từng tiểu ban của hội đồng hoặc trước từng cá nhân thành viên hội đồng.

Thứ ba, quan hệ giữa hội đồng trường mang hiệu trưởng và các thành viên nhà trường

Trong 1 cơ sở giáo dục đại học hội đồng trường là 1 thực thể mang quyền lực cao nhất, khiến nhiệm vụ lãnh đạo, quản trị nhà trường, còn bộ máy của hiệu trưởng sở hữu nhiệm vụ quản lý, điều hành.

Mối quan hệ giữa hội đồng trường và những thành viên của hội đồng trường có hiệu trưởng và bộ máy của hiệu trưởng tuân theo các nguyên tắc sau đây:

Một là, Hội đồng trường lãnh đạo và quản trị cơ sở giáo dục đại học qua hiệu trưởng chứ ko  trực tiếp liên quan tới bộ máy của hiệu trưởng.

Sự lãnh đạo và quản trị của hội đồng trường được thực hiện bằng nghị quyết của toàn thể hội đồng trường chứ ko buộc phải từ các thành viên trong hội đồng.

Hiệu trưởng mang bổn phận giải trình sở hữu nói chung hội đồng trường chứ không nên với từng thành viên của hội đồng.

Quan hệ giữa hiệu trưởng và các thành viên hội đồng trường là quan hệ cùng sự, ngang hàng chứ ko buộc phải trên dưới.

Quan hệ giữa chủ toạ hội đồng trường và hiệu trưởng cũng là quan hệ ngang hàng, tương trợ nhau, chứ không phải trên dưới.

Hội đồng trường và từng thành viên của nó không sở hữu quan hệ chỉ đạo chính thức trực tiếp đối có những thành viên khác trong bộ máy của hiệu trưởng, trừ khi hiệu trưởng yêu cầu.

Hai là, khi hội đồng trường xác định đúng các điều nó muốn đạt được và các điều nó không muốn xảy ra (Ends & Execcutive Limitation (John Carver, 1990 (một)), thì quan hệ của hội đồng trường và hiệu trưởng sẽ được thông minh hóa: hội đồng trường sẽ tăng niềm tự tín và giảm sự mỏi mệt trong lãnh đạo; còn  hiệu trưởng cũng sẽ tự do hơn trong điều hành.

Hội đồng trường buộc phải lãnh đạo chiến lược chứ ko bắt buộc sa vào những quyết định chiến thuật, do đó khi đã với chính sách và kế hoạch tổng thể, hội đồng trường nên giao quyền hầu hết cho hiệu trưởng, không phải can thiệp vào việc điều hành cụ thể của hiệu trưởng.

Các nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục đại học thường sở hữu lời khuyên: “Lúc đã lựa chọn đúng một hiệu trưởng phải chăng và xác định đúng chính sách thích hợp, hội đồng trường hãy tránh ra ngoài để hiệu trưởng điều hành công tác”.

Ở đây phải với sự tin tưởng lẫn nhau giữa bộ phận lãnh đạo, quản trị và bộ máy điều hành, quản lý. Khi hai bên hiểu rõ bổn phận của mình, hiểu biết và tôn trọng nhau thì quan hệ giữa hai bên sẽ rẻ đẹp.

Thiết bị tư, một số cách thức quản trị cụ thể của hội đồng trường

Nhiệm vụ trung tâm của hội đồng trường là xây dựng những chính sách, và bổn phận quan trọng là giám sát và kiểm tra hoạt động điều hành thực hiện chính sách của bộ máy điều hành.

Để làm cho rẻ những hoạt động trên hội đồng trường cần lưu ý những nguyên tố sau đây.
Những chính sách bắt buộc xây dựng:

Chính sách là phương tiện lãnh đạo và quản trị của hội đồng trường, phải xây dựng chính sách là hoạt động trung tâm và quan trọng nhất của nó. Các chính sách thúc đẩy đến hội đồng trường với thể được chia thành 4 nhóm:

Một là, các mục tiêu chung cục (Ends): Các sản phẩm rốt cuộc mà nhà trường muốn mang lại cho xã hội là gì, thỏa mãn nhu cầu nào của con người, chế tạo cho ai sở hữu giá cả như thế nào. Đây chính là nhóm chính sách quan yếu nhất, vì chính nó đề cập lên lý do tồn tại của công ty. Khi xây dựng các mục tiêu bắt buộc đưa ra các tiêu chí đối sở hữu những mục đích đấy. 

Hai là, các dừng buộc phải tuân thủ lúc thực hiện (Executive Limitations): Muốn tạo ra các sản phẩm rốt cuộc nhắc trên buộc phải bắt buộc sử dụng rộng rãi giải pháp khác nhau, ngoài ra buộc phải đề ra những nguyên tắc về sự thận trọng và đạo đức để ngừng việc tuyển lựa các giải pháp.

Để ko hạn chế việc tự do và sáng tạo của toàn bộ người, hội đồng ko cần quy định các biện pháp cụ thể mà chỉ đưa ra các giới hạn nhắc trên.  
 
Ba là, quan hệ giữa hội đồng và bộ máy điều hành (Board-Executive Relationship): Cách thức mà hội đồng tiêu dùng để chuyển giao quyền lực cho bộ máy điều hành và phương pháp đánh giá kiểm tra việc sử dụng quyền lực đó.    
Bốn là, quá trình của hội đồng (Board Process): Phương pháp hội đồng đại diện cho “quyền với” và thực hành việc lãnh đạo chiến lược đối với nhà trường.
Bí quyết kiểm tra và đánh giá:

Trên đây đã nêu nguyên tắc: hội đồng chỉ đánh giá và kiểm tra những điều đã được nêu trong những chính sách. Muốn vậy, những hội đồng với thể sử dụng 3 phương pháp kiển tra kiểm tra sau đây, dựa vào:

một) Báo cáo của hiệu trưởng, trong đấy tụ họp giải trình việc thực hành những chính sách đã được đề ra.

2) Các kiểm tra từ bên ko kể, chả hạn, kiểm tra của những cơ quan kiểm toán, kiểm định chất lượng.

3) Những kết quả thanh tra trực tiếp, thường do một đôi thành viên hội đồng được phân công thực hiện.  

Nội dung kiểm tra việc điều hành của hiệu trưởng là coi xét bộ máy của hiệu trưởng với làm đúng các việc mà hội đồng trường kỳ vọng hay không: với biến những mục tiêu cuối cùng được đề ra thành kết quả hay ko, và mang vi phạm các giới hạn điều hành được quy định hay ko. Lúc đánh giá việc hoàn thành những mục tiêu cần theo sát những tiêu chí đã được đề ra.

Các thông báo cần thu thập trong quá trình kiểm tra với thể phân chia thành 3 loại:

a) Thông tin để đánh giá việc thực hiện, tương tác tới những chính sách cụ thể;

b) Thông tin hỗ trợ cho việc xây dựng chính sách trong tương lai;

c) Thông báo thu được 1 cách ngẫu nhiên. Khi thu được những thông tin tình cờ phải từ đó lọc ra các thông tin cấp thiết để đánh giá, kiểm tra, ko cần để chúng khiến cho lạc hướng.   

Đánh giá và kiểm tra việc điều hành của bộ máy hiệu trưởng là 1 giai đoạn liên tục, phối hợp đơn vị thường xuyên có đơn vị định kỳ hàng năm. Đánh giá kiểm tra hàng năm cũng bao gồm tổng kết của các kiểm tra liên tiếp theo những tiêu chí đã sở hữu chứ không đưa vào các tiêu chí mới.   

Tài liệu tham khảo:

(1) John Carver. Boards that make a difference. A New Design for Leadership in Nonprofit and Public Organizations. Jossey-Bass Publishers. San Francisco. 1990.

Báo Giáo dục