Quyền lực mềm của Hoa Kỳ và Giáo dục đại học ở Việt Nam

0
231
5 (100%) 1 vote

LTS: Hoa Kỳ và Việt Nam từng với chung thời khắc bất hòa, đau thương trong lịch sử. 40 năm trôi qua từ khi trận chiến tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975, liên quan toàn cầu hóa đem hai nước trở lại mang nhau. 

Mùa hè 2015 đánh dấu 20 năm kỷ niệm bình thường hóa quan hệ ngoại giao hai nước, Giáo dục đại học đã trở thành phương tiện chính để hai bên tìm ra đầu mối tiến lên và vượt qua quá khứ. 

Mỗi năm hàng nghìn sinh viên Việt Nam sang học đại học ở Hoa Kỳ, kế hoạch thành lập Đại học Fulbright Việt Nam theo mô hình Mỹ đang khai triển. 

Thúc đẩy đến chủ đề trên, Báo điện tử Giáo dục Việt Nam nhận được bài viết của ông Mary Beth Marklein – Đại học George Mason, Hoa Kỳ và TS. Mai Văn Tỉnh giấc – Ban nghiên cứu & phân tách chính sách, Hiệp hội những đại học, cao đẳng Việt Nam.

Bài viết sẽ tụ hợp khai thác những động lực thúc đẩy giữa Việt Nam và Hoa Kỳ khi Việt Nam chuyển đổi hệ thống giáo dục đại học từ mô hình nhà nước kiểm soát sang mô hình mang thể tham gia tốt hơn vào nền kinh tế toàn cầu. 

Để khai hoang sâu hơn quan niệm cộng tác giao lưu giáo dục đại học giữa hai nước trong mấy thập kỷ qua, các tác giả đã nghiên cứu dữ liệu từ những báo cáo, bài báo, phỏng vấn trực tiếp nhà giáo, nhà quản lý, học fake nghiên cứu giáo dục đại học Việt Nam.

Từ lâu Việt Nam đã mở cửa để học tập và vận dụng kinh nghiệm nước không tính, miễn là những ý tưởng và kinh nghiệm đấy sở hữu lợi và thích ứng mang văn hóa nội địa của mình. 

Tuy nhiên, sở hữu thể thấy rằng, từ lâu người Mỹ vốn tin chắc rằng giáo dục đại học Hoa Kỳ là “tháp ngà trên thế giới”. Những dị biệt này tạo ra bao tay mà Jamieson thể hiện như sau:

“Việt Nam là nước từ lâu cho rằng với vài “cách mới từ phương Tây với thể với giá trị mô phỏng, nhưng Hoa Kỳ lại là nước quá nhấn mạnh rằng những nước khác đang giống, muốn hay cần giống nước Mỹ”.
            
Bối cảnh

Giáo dục đại học đang trở nên ưu tiên bậc nhất của những nước đang vững mạnh vì là thời cơ nền móng cho kinh tế kiến thức. Sự xuất hiện nền kinh tế kiến thức tạo ra thị trường mới cho các nhà sản xuất giáo dục đại học ở các nước công nghiệp hóa như Hoa Kỳ. 

Nhu cầu giáo dục đại học trên toàn cầu tăng lên bởi tác động của toàn cầu hóa. 

Xét từ phương diện giáo dục đại học, Altbach, Reisberg và Rumbley đưa ra khái niệm trung lập về toàn cầu hóa là “hiện thực hình thành bởi kinh tế toàn cầu, thông tin mới và thông báo liên lạc ngày một tích hợp, xuất hiện mạng tri thức thế giới, cùng vai trò của tiếng Anh”.

Trong lúc đó các chính phủ và các cơ sở tập huấn lại phản ứng có toàn cầu hóa như 1 vấn đề chính sách. Quốc tế hóa là thuật ngữ diễn đạt sự phản ứng này. 

Đối với giáo dục đại học, chủ nghĩa tự do mới được hỗ trợ bởi GATS, Hiệp nghị thương mại WTO hiệu lực từ 1995 làm cho cho giáo dục đại học trở thành hàng hóa bàn luận.  

Những e dè về toàn cầu hóa đã phản chiếu xu hướng rộng lớn hơn. Gắn vào giáo dục đại học, chúng tôi cho rằng mối quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam làm ngang hàng mô hình cốt lõi-ngoại vi của lý thuyết hệ thống.

Lý thuyết này thế giới với từ thập kỷ 40 khi Prebisch và Singer gắn cấu trúc thị trường toàn cầu với mô hình chấp nhất bất bình đẳng toàn cầu.  

Sử dụng quan niệm này Wallerstein chứng tỏ mối quan hệ giữa nước kém quyền lực hơn (Ngoại vi), mang nước với quyền lực hơn (Chủ chốt) và nước Bán ngoại vi (là nước sở hữu thời là Then chốt những mất dần quyền lực của mình). 

Ông lập luận rằng các nhà nước (dù kém vững mạnh, đang tăng trưởng hay đã công nghiệp hóa) sở hữu thể chỉ được hiểu trong bối cảnh rộng to hơn của chủ nghĩa tư bản. 

TS. Mai Văn Tỉnh giấc. Ảnh Xuân Trung

Có mô hình và ngôn ngữ tương tự, Galtung (1971) xác định cấu trúc quyền lực ở bên trong và giữa những nước. Ông dùng thuật ngữ quốc gia Trung tâm và nhà nước Ngoại vi, mà ở mỗi nuớc đều sở hữu cả trung tâm lẫn ngoại vi. 

Trong mô hình “cấu trúc 4 chiều của chủ nghĩa đế quốc” Galtung xác định 6 mối quan hệ mang bên trong và giữa Trọng điểm với trọng điểm, Ngoại vi sở hữu ngoại vi của từng nước (xem Hình một). 

Dòng chỉ dựa trên hài hòa ích lợi là quan hệ chính của Trọng điểm với Ngoại vị. Còn 4 cái khác ko kết hợp ích lợi (thí dụ, quan hệ trọng tâm mang ngoại vi ở bên trong mỗi quốc gia Trung tâm và quốc gia Ngoại vi, và giữa các ngoại vi của mỗi quốc gia) (1981, trang 79).

Hình một. Cấu trúc bán phần chủ nghĩa đế quốc của Galtung’, trong đó cC= trung  tâm của nước Trung tâm, cP = trọng tâm của nước Ngoại vi, pC= ngoại vi của nước trung tâm, và pP= ngoại vi của nước Ngoại vi.

Sự hài hòa lợi ích chỉ ngang hàng giữa các trung tâm của nước Trung tâm và Ngoại vi (đường chéo cC mang pP), dù rằng mối quan hệ giữa ngoại vi của các nước trọng tâm và trung tâm của những nước Ngoại vi (đường chéo pC mang cP) là chẳng thể xác định được. 

  Trong cuốn sách có tên đề khá khiêu khích “Giáo dục như một chủ nghĩa đế quốc văn hóa”, Carnoy đã gắn “tinh thần hệ của tính hiệu quả” trong giáo dục nhà trường mang sự nổi lên quyền bá chủ của Mỹ sau 1945. 

Ông lập luận rằng sức ép kinh tế dựa vào thị trường khiến gia nâng cao chính sách và thực tiễn giáo dục dẫn đến phân bố thu nhập ko bình đẳng cả ở trong các nước cũng như trên toàn cầu. 

(GDVN) – Ngành giáo dục cần đổi thay mạnh khâu tuyển dụng và thải hồi gia sư theo hướng mở, mang khó khăn, mỗi năm có người ra, mang người vào…

Ông lý giải vai trò của giáo dục chính qui tạo ra và duy trì “các quan hệ thực dân” như một vấn đề của chính sách đối ngoại Hoa kỳ (trang 33), những chương trình viện trợ nước ko kể nhấn mạnh giáo dục nhà trường định hướng tính hiệu quả chỉ mang lại ích lợi cho nước tư bản quyền lực, và trong chừng mực nào đó cho giới tinh hoa ở nước đang phát triển. 

Rút từ luận điểm của Galtung, Carnoy quyết đoán rằng: “Trung tâm của  quốc gia sản bản tiên tiến (nuớc Trung tâm) duy trì vị trí trọng tâm của mình trong nhà nước Ngoại vi bằng viện trợ quân sự, hỗ trợ khoa học và các khoản cho vay cùng tài trợ “tăng trưởng” giữa  chính phủ sở hữu chính phủ. 

Trung tâm nằm trong nước Ngoại vi hưởng lợi từ quan hệ này:  phần chia sẻ ko cân đối về quyền lực chính trị và sản phẩm quốc dân của các nước được duy trì bởi điều này”. 

Luận điểm chính của Cannoy là những trung tâm ở các nước Mấu chốt (tư bản), cộng sở hữu các trọng điểm ở những nước Ngoại vi, là nơi hưởng lợi ích hàng đầu của những mối quan hệ tự kéo dài mãi, và rằng Hoa kỳ là nhà nước lãnh đạo không ai tranh giành được trong thế giới tư bản”.

Sắp đây, Tikly gợi ý cấu trúc trung tâm-ngoại vi nguyên lành, nghiêng về “chế độ cai trị toàn cầu mới bảo đảm lợi ích của Hoa kỳ với những đồng minh phương Tây và chủ nghĩa tư bản toàn cầu 1 cách chung chung hơn”. 

Trong khi các nhà nghiên cứu giáo dục thách thức tính phổ thông quan niệm và thực tại giáo dục phương Tây thì tiếng Anh, tiếng nói giáo dục toàn cầu lại với nét độc đáo của vườn ươm chủ nghĩa thực dân mới, thúc đẩy tới chương trình tập huấn, sư phạm học và giáo dục. 

Để xác định các ưu tiên, thách thức hàng đầu trong phản ứng của mình có toàn cầu hóa, những nhà lãnh đạo đại học Việt Nam thường khởi đầu có nhu cầu đào tạo tiếng Anh. 

Việc đề cao tiếng Anh cũng ngấm sâu vào hoạt động giáo dục đại học: Nó là tiếng nói của những nhà xuất bản sách giáo khoa đa quốc gia, các doanh nghiệp Interrnet, các tập san công nghệ và cơ sở dữ liệu học thuật. 

Rưa rứa, việc sản xuất và phân phát tri thức được cấu trúc rộng khắp phê duyệt thấu kính phương Tây (đặc biệt là Hoa kỳ), ví dụ, tính đại chúng lan rộng chương trình MBA của Mỹ về quản trị marketing. 

Hơn nữa, các nhà nghiên cứu liên văn hóa nhận xét về những cơ hội tiềm năng gây thiệt hại và bỏ sót lúc phương pháp dạy- học phương Tây bị áp đặt vào nền văn hóa phi phương Tây. 

Chả hạn, mô hình học hợp tác kiểu phương Tây, lúc thầy giáo là người chỉ dẫn hay xúc tác hợp công ở lớp học phương Tây, thì lại sở hữu thể làm suy yếu việc học trong  lớp học chịu thúc đẩy đạo Khổng ở phương Đông, nơi mà người thầy được tôn kính và chẳng thể bị thách thức 1 cách công khai. 

Na ná, việc đánh giá kín đáo bởi đồng nghiệp, một thực tế trong học tập hợp tác, với thể tạo ra bao tay trong văn hóa đạo Khổng, nơi mà sự tin cậy và cá tính là các điều quan trọng nhất. 

Các học nhái cũng lưu ý đến các gợi ý khi thực tiễn nghiên cứu bắt nguồn từ phương Tây được ứng dụng vào các nền văn hóa phương Đông và khai thác những biện pháp chọn lọc.

Bối cảnh Việt Nam thì sao?

Việc nghiên cứu bức tranh tổng quát giáo dục đại học Việt Nam làm phong phú các vấn đề toàn cầu trong quá khứ, vì ở công đoạn hình thành của mình, nó thường bị miễn cưỡng bởi áp lực ảnh hưởng nước ngoại trừ. 

Những giá trị Việt của “tính linh hoạt và thực tại đã ăn sâu vào tàn tích và văn hóa Việt”. Di sản Trung hoa cai trị Việt Nam hơn 10 thế kỷ, tới tận năm 938 sau công nguyên, là văn hóa đạo Khổng đã tranh giành sự ổn định và hài hòa – cụ thể là các giá trị và mục tiêu tập thể của cộng đồng này to hơn bất kỳ một mong ước cá nhân nào. 

Giáo dục đại học Việt Nam và Hoa Kỳ mang các điểm chung nào? Ảnh minh họa Xuân Trung

Thực dân Pháp thống trị Việt nam từ năm 1847, đô hộ 100 năm với chíến lược “làm cho ngu dân để dễ bề cai trị”.  Ấy thế mà, với các chính sách ngột ngạt này, Pháp cũng đã mở cửa cho Việt Nam đi vào phương Tây. 

Chẳng hạn, việc thay thế Hán tự bằng chữ viết La tinh khiến cho cho Việt Nam sẵn sàng giao lưu hơn. Cuối cùng, thậm chí trước khi chính phủ Hoa kỳ đưa cố vấn quân sự vào miền Nam Việt Nam giữa các năm 1950, các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam đã rất muốn khai hoang triết lý giáo dục đại học Hoa kỳ.

Phải cần nhận thấy rằng sự tương trợ giáo dục đại học cho Việt Nam từ các nước khác bao gồm cả cấp trường và cấp chính phủ như Pháp, Đức, Úc, Nga và Nhật Bản được trải rộng khắp Việt Nam. 

Bất chấp điều đó, quan hệ Việt Nam-Hoa kỳ tạo thời cơ để phê duyệt các mối quan hệ giữa nước Trọng tâm và nước Ngoại vi đã tiến triển như thế nào trong lĩnh vực giáo dục đại học. 

Khi gần chấm dứt Thế chiến II, vị cựu học nhái, cựu chủ tịch Đại học Sen. J. William Fulbright đưa ra ý niệm trao đổi học thuật như một bí quyết để giúp các nhà nước đồng minh trả nợ Hoa Kỳ, nhằm lôi kéo Hoa kỳ ra khỏi thiên hướng riêng biệt suốt 150 năm;

(GDVN) – Muốn chuyển đổi dòng hình hoạt động ko vì lợi nhuận, trường Đại học Hoa Sen bắt buộc hoàn thiện giấy tờ, thủ tục chuyển đổi theo đúng những quy định.

Có lẽ, trên hết, là để khuyến khích “sự thúc đẩy thiện ý quốc tế” giữa Hoa Kỳ, một vô cùng cường mới toàn cầu mang phần còn lại của thế giới. 

Suốt 2 thập kỷ ngồi ở vị trí hàng đầu trong các quan hệ quốc tế của Mỹ, Fulbright đã cảnh báo nước Mỹ ko phải tiêu dùng “tính tự thị quyền lực”, ông đã trực tiếp lo ngại đến cuộc leo thang chiến tranh ở Việt Nam. 

Và thậm chí như một luận cứ kinh tế để tác động quốc tế hóa, giáo dục đại học mang vai trò trong những quan hệ chính trị và ngoại giao. 

Như 1 vấn đề trong chính sách đối ngoại của Mỹ, Joseph Nye khuyến nghị mở mang các giá trị và hệ thống giáo dục đại học Mỹ dưới dạng “quyền lực mềm”, mà ông xác định là “sở hữu chiếc khác để muốn các kết quả mà bạn muốn”. 

Nhường như bất kỳ cố gắng nào muốn tạo ra sự đối tác đồng đẳng đều cần thách thức mô hình viện trợ nước không tính truyền thống, trong khi đấy cũng giảm nhẹ tính ko công bằng ưng chuẩn các chính sách tự do mới. 

Wiley và Root khuyến nghị rằng những cộng tác như vậy cần được xây dựng trên ”nền móng tôn trọng lẫn nhau, với đi sở hữu lại, không lo nghĩ và minh bạch”. 

Nền tảng đó mang thể khởi đầu bằng những câu hỏi tìm kiếm sự thực: ai được hưởng lợi trong mỗi nước từ những chính sách giáo dục đại học tự do mới và ai bị bỏ lại phía sau? 

Loại gì là động cơ thúc đẩy đáng tôn trọng ở mỗi nước và ảnh hưởng dòng gì? Giả dụ xét mọi, ý niệm của Galtung về hài hòa và ko kết hợp ích lợi được thể hiện như thế nào và hậu quả của mỗi dòng là gì? Các dị biệt về văn hóa được tính tới như thế nào? 

Lực lượng đặc nhiệm Liên hợp quốc năm 2006 kêu gọi các “cá nhân nắm giữ  quyền lực” đệ trình quy tắc và qui chế nhất định để hạn chế việc họ tự do dùng quyền uy mà họ cho là phù hợp”. 

Nhường nhịn như từ chung cục này ăn nhập mang cách kể của người Việt. Trong ý kiến phê phán của mình năm 1973 về trạng thái giáo dục đại học ở Nam Việt Nam, Tôn Thất Thiện phét lác về một chủ đề quen thuộc, muốn Mỹ giúp đỡ cai trị chiếc mà Pháp đã làm cho trong thời kỳ thực dân. 

“Người Việt nên bắt buộc chọn đường đi riêng của mình và tiến kịp hiện đại hóa”, ông ta viết “Nước Mỹ sở hữu thể sản xuất những công cụ công cụ, chứ không bắt buộc các mục tiêu”.

Báo Giáo dục